Đang tải thanh công cụ tìm kiếm ...
Phép Tính Online

Lí tưởng nghệ thuật của Vũ Như Tô chân chính, nhưng là lí tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần tuý của muôn đời, thoát li khỏi hoàn cảnh lịch sử - xã hội của đất nước, xa rời đời sống hiện thực của nhân dân lao động.

GỢI Ý LÀM BÀI

1. Các mâu thuẫn cơ bản của vở kịch "Vũ Như Tô" trong hồi V:

a.   Mâu thuẫn thứ nhất: Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ làm than với bọn hôn quân bạo chúa và phe cánh của chúng đang sống xa hoa, trụy lạc. Mâu thuẫn này đã có từ trước, đến khi Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài thì càng trở lên căng thẳng.

Để xây dựng cửu Trùng Đài, triều đình ra lệnh tăng sưu thuế, bắt thêm thợ giỏi, tróc nã, hành hạ những người chống đối. Thợ phải làm việc cật lực mà vẫn đói khát và bị ăn chặn. Dân câm phẫn vua làm cho dân cùng, nước kiệt; thợ thuyền thì oán Vũ Như Tô vì nhiều người chết vì tai nạn, vì ông cho chém những kẻ chạy trốn.

Trịnh Duy Sản can ngăn Lê Tương Dực, báo sẽ có loạn và đòi đuối bọn cung nữ, giết Vũ Như Tô. Nhưng Lê Tương Dực chẳng những không nghe mà còn sai đánh đòn Trịnh Duy Sản (hồi III). Thế rồi, kế theo đó là tin lụt lội, mất mùa, tin "dân đói kém nổi lên tứ tung" truyền đến Thăng Long. Vũ Như Tô bị đá đè bị  thương vẫn hăng hái đốc thợ xây dựng Cửu Trùng Đài. Thợ định nổi loạn. Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn ấy, Trịnh Duy Sản - kẻ cầm đầu phe cánh đối nghịch trong triều đình - đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm phản, giết Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và thiêu huỷ Cửu Trùng Đài (hồi 4 và 5).

Như vậy, mâu thuẫn này đến hồi thứ năm đã trở thành cao trào, lên tới đỉnh điểm ớ hồi cuối cùng và được giải quyết: hòn quân Lê Tương Dực bị Trịnh Duy Sán giết, Nguyễn Vũ tự sát, Kim Phượng và đám cung nữ bị những ké nổi loạn nhục mạ, bắt bớ.

b.    Mâu thuẫn thứ hai: Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý của muôn đời (Cửu Trùng Đài) và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.

Mâu thuẫn này có nguồn gốc từ nguyên nhân sâu xa: Người nghệ sĩ thicn tài đầy hoài bão và tâm huyết cũng không thê thi thố tài năng của mình đế đem lại cái đẹp cho dời, niềm tự hào cho dân tộc trong một chế độ xã hội thôi nát, trong một đất

nước mà nhân dân còn phải sống triền miên trong đói khổ lầm than. Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài năng, có khả năng "tranh tinh xảo với hoá công" để xây dựng cho đất nước một toà lâu đài vĩ đại, để cho "dân ta nghìn thu còn hãnh diện". Nhưng hoàn cảnh đất nước không tạo điều kiện cho Vũ Như Tô thực hiện khát vọng sáng tạo vĩ đại, chân chính đó.

Không có cách nào khác, Vũ Như Tô đã nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm mượn uy quyền và tiền bạc của tên vua hỏn quân là Lê Tương Dực để thực hiện hoài bão lớn lao của mình xây dựng cho đất nước một công trình nguy nga, vĩ đại. Trớ trêu thay, chính niềm khao khát được cống hiến, được sáng tạo chân thành đã đẩy Vũ Như Tô vào tình trạng đối nghịch với lợi ích trực tiếp và thiết thực của nhân dân. Từ ycu nhân dân, muốn cống hiến tài năng của mình để đcm lại niềm tự hào và vinh quang cho đất nước, Vũ Như Tô lại bị nhàn dân, nhất là những người thợ coi ỏng như kẻ thù. Đó chính là nguồn gốc sâu xa của tấn bi kịch không lối thoát của thiên tài Vũ Như Tô.

Hai mâu thuẫn nêu trên là hai mâu thuẫn cơ bản cúa vớ kịch và được biểu hiện ớ hồi V. Hai mâu thuẫn này có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau.

2. Câu 2 trang 193 SGK Văn 11.

a) Tính cách và diễn biến tâm trạng Vũ Như Tô:

Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân cho niềm khát khao, say mê sáng tạo cái đẹp. Tài năng của nhân vật này chủ yếu được thể hiện ở những hồi trước của vớ kịch và chủ yếu qua lời nhân vật khác nhận xét về ông. Vũ Như Tô là một thiên tài "ngàn năm chưa dễ có một", "chỉ vẩy bút là chim, hoa đã hiện lên trên mảnh lụa thần tình biến hoá như cảnh hoá công", có thể "sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể dựng lâu dài cao cả, nóc vờn mây mà không hể tính sai một viên gạch nhỏ".

Vũ Như Tô là một nghệ sĩ có nhân cách lớn, có hoài bão lớn, có lí tưởng nghệ thuật cao cả. Là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, nên mặc dù bị Lê Tương Dực doạ giết, Vũ Như Tô vẫn ngang nhiên chửi mắng tên vua hôn quân và kiên quyết từ chối việc xây dựng Cửu Trùng Đài. Ồng cũng không phải là người hám lợi (khi được vua ban thướng vàng, lụa, ông đem chia hết cho thợ). Lí tưởng nghệ thuật của Vũ Như Tô chân chính, nhưng là lí tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần tuý của muôn đời, thoát li khỏi hoàn cảnh lịch sử - xã hội của đất nước, xa rời đời sống hiện thực của nhân dân lao động. Vì quá say sưa với mơ ước xây dựng một kiệt tác cho đất nước, một cống trình để đời với ngàn thu mà Vũ Như Tô không nhận ra mội thực tế tàn nhẫn: Cửu Trùng Đài xây bằng mồ hỏi, nước mắt và xương máu của nhân dân.

-   Hồi thứ V của vở kịch không nói nhiều đến tài năng của Vũ Như Tô mà tập trung làm nổi bật tâm trạng bi kịch đầy căng thảng của ông khi phải tìm kiếm câu trả lời: Xây Cửu Trùng Đài Ici dúng hay sai? Là có công hay có tội? Nhưng Vũ Như Tô đã không trả lời íhoá đáng những câu hỏi đó. Khát vọng nghệ thuật, niềm dam mê sáng tạo của ỏng có phần chính đáng là xuất phát từ thicn chức của người nghệ sĩ, từ động cơ chân chính muốn khảng định tài năng của mình, muốn tô điếm cho đất nước và làm đẹp cho đời nhưng đã đặt lầm chỗ, lầm thời, xa rời thực tế nên dã phái trả giá bằng sinh mệnh của bản thân và của cả công trình nghệ thuật (Ngữ Văn 11, tập 1, SGK).

-  Vũ Như Tô là một nhân vật bi kịch. Những say mê, khát vọng trong ông mâu thuẫn với hiện thực, suy nghĩ và hành động cúa ông có những bước sai lầm. Ong không nghĩ việc minh xây Cửu Trùng Đài cho đất nước lại bị xem là tội ác. Đến khi cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiểm hốt hoáng báo cho Vũ Như Tô nguy cơ sẽ bị giết nếu không trốn, nhưng ông vẫn không chịu đi vì vẫn tin việc làm của mình là "chính đại quang minh", vẫn hi vọng sẽ thuyết phục được An Hoà Hầu, một trong những kẻ cầm đầu phe nổi loạn. Song sự thực tàn nhẫn không diễn ra như ảo tướng của Vũ Như Tô. Khi ông và Đan Thiềm bị bắt, Cửu Trùng Đài bị đập phá, thiêu huỷ thì ông mới bừng tỉnh, xiết bao đau đớn, kinh hoàng ngửa mặt lên trời mà kêu lên: "Oi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!". Trong tiếng kêu ấy, Mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài dồn dập vang lên hoà nhập vào nhau thành nỗi đau bi tráng. Đó cũng chính là âm hưởng chủ đạo của đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài.

b)   Tính cách và diễn biến tâm trạng Đan Thiềm:

Nếu như Vũ Như Tô là người nghệ sĩ đam mê sáng tạo cái dẹp thì Đan Thiém là người dam mê cái tài, ớ đây là tài sáng tạo ra cái đẹp. "Bệnh Đan Thiém" theo quan niệm của Vũ Như Tô là "bệnh" mê đắm tài hoa siêu việt của ngưừi sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo ra cái đẹp. Vì có tấm lòng liên tài nên lúc Vũ Như Tô mới bị bắt, ông nhờ Đan Thiém "mách đường chạy trốn", nàng đã khuyên ông ớ lại, thuyết phục ông nhân cơ hội này, mượn uy quyền và tiền bạc của Lê Tương Dực để thực hiện hoài bão xây dựng cho đất nước một công trình nghệ thuật đồ sộ, vĩnh cửu. Vì đam mê tài năng mà nàng luôn khích lộ Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài, sần sàng quên mình để bảo vệ cái tài ấy. Với nét tính cách ấy, Đan Thiềm xứng đáng là người tri âm, tri kỉ của Vũ Như Tô.

Nhưng nếu Vũ Như Tô đam mê sáng tạo đến mức không hề chú ý, không hề biết đến hoàn cảnh vây quanh mình, thì Đan Thiềm lại luôn tỉnh táo, sáng suốt trong mọi trường hợp. Biết chắc ước vọng xây đài lớn không thành, tâm trí nàng giờ đây chỉ còn tập trung vào việc bảo vệ an toàn tính mệnh cho Vũ Như Tô. Đan Thiềm khẩn khoán khuyên Vũ Như Tô đi trốn, năm lần bảy lượt thúc giục ông "đi trốn". Nàng chắp tay lạy van xin: "Tôi xin ông, ông nghe tôi trốn đi" nhưng không sao làm cho ông tỉnh ngộ. Vũ Như Tô vẫn bướng bỉnh chống lại số phận. Đến khi quân nổi loạn kéo vào, gươm giáo sáng loè, biết Vũ Như Tô "có trốn cũng không được nữa" thì nàng đã khóc. Nàng nói với Ngô Hạch, sẵn sàng đổi mạng sống của mình để cứu Vũ Như Tô: "Tướng quân nghe tôi. Bao nhiêu tội tôi xin nhận hết. Nhưng xin tướng quân tha cho ông Cả. Ông ấy là một người tài". Biết không sao cứu nổi Vũ Như Tô, Đan Thiềm đau đớn buông lời vĩnh biệt người tri âm, tri kỉ: "Ông Cả! Đài lớn tan tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt".

Diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích VIhh biệt Cửu Trùng Đài cho thấy sâu sắc hơn bi kịch của chính các nhân vật này, đồng thời cũng làm nổi bật chủ đề tư tưởng cúa tác phẩm.

3. Câu 3 trang 193 SGK Văn 11.

Trong hai mâu thuẫn đã phân tích ở trên, mâu thuẫn giữa nhân dân khốn khổ lầm than với bọn hôn quân bạo chúa cùng phe cánh của chúng đã được giải quyết dứt khoát theo quan điểm của nhân dân. Bạo chúa Lê Tương Dực bị giết; Nguyễn Vũ - đại thần của y - tự sát; đám cung nữ bị những kẻ nổi loạn nhục mạ, bắt bớ.

Thế nhưng mâu thuẫn thứ hai giữa quan điểm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý của muôn đời với lợi ích thiết thực của quần chúng nliân dân chưa được tác giả giải quyết một cách dứt khoát. Điều đó được thể hiện ở chỗ Vũ Như Tô cho đến lúc chết vẫn không nhận ra sai lầm của mình, vẫn đinh ninh là mình vô tội. Vũ Như Tô không đứng về phía hôn quân Lê Tương Dực nhưng lại muốn mượn uy quyền và tiền bạc của hắn để thực hiện hoài bão nghệ thuật của mình, trong thực tế, đã võ tình gây thêm nỗi khổ cho nhân dân. Vũ Như Tô có tội hay có công? Vũ Như Tô đúng hay những người giết Vũ Như Tô đúng? Đó là những câu hỏi day dứt mà chính tác giả cũng không thể giải quyết một cách rạch ròi, dứt khoát được. Chính tác giả đã bày tỏ nỗi băn khoăn của mình qua lời đề từ: "Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc?", chẳng biết "Như Tô phải hay những người giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chắng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm". Cách nêu vấn đề của tác giả như vậy là hợp lí Bởi lõ, chân lí chỉ thuộc về Vũ Như Tô một nửa, còn nửa kia lại thuộc về quần chúng nhân dân.

4. Câu 4 trang 193 SGK Văn 11.

Bi kịch là một thế của loại hình kịch (đối lập với thể hài kịch). Ngoài các đặc điểm chung của loại hình kịch, bi kịch còn mang những đặc điểm riêng của thể. Những đặc điểm riêng này chủ yếu được thể hiện qua mâu thuẫn, xung đột và nhân vật.

Xung đột kịch được tạo dựng từ những màu thuần "không thể giải quyết" được; mọi cách khắc phục mâu thuản đều dẫn đến "sự diệt vong những giá trị quan trọng".

Nhân vật chính của bi kịch thường là những anh hùng (như Hăm-lét chẳng hạn). Nhân vật bi kịch là những con người có những say mê, khát vọng lớn lao (trong (rường hợp này là Vũ Như Tô); đồng thời đỏi khi còn có cá những sai lầm rrong hành động và suy nghĩ. Kết thúc bi thảm của số phận nhân vật bi kịch thường có ý nghĩa thức tỉnh, khơi gợi tình cảm nhân vãn của con người.

Tất cả những đặc trưng của thể loại bi kịch trên đây đều được thế hiện một cách đầy đủ trong Vũ Như Tô.  Riêng ở đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, việc giải quyết xung đột kịch được nhấn mạnh nhất. Khi các mâu thuẫn đã hình thành từ những hồi trước, đến đây mâu thuẫn được đẩy lên cao và được giải quyết. Khi mâu thuẫn được đẩy lên đến tột đỉnh thì đó cũng là lúc tính cách và bi kịch của nhân vật (nhất là Vũ Như Tô và Đan Thiềm) cũng được thế liiộn rõ nhất, nổi bật nhất.

Đoạn trích này đã thể hiện rất rõ đặc sắc nghệ thuật kịch Nguyền Huy Tưứng: ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tống hợp cao; qua ngôn ngữ và hành động kịch, tâm trạng và tính cách của nhân vật được diễn tả một cách sâu sắc, xung đột kịch được đẩy lên đến cao trào.

Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học